Kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã khẳng định những mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp của Chiều tối ngày 27/1/2021, đêm tiệc cuối năm được mong chờ nhất - Year End Party 2020 đã được tổ chức trong niềm hân hoan, háo hức của tất cả CBNV Trung tâm Công nghệ thông tin MobiFone. Tham dự chương trình còn có sự hiện diện của ông Nguyễn Đình Tuấn - Thành viên… Mỹ: Phát hiện nhiều lỗi trong công nghệ nhận diện khuôn mặt Nghiên cứu về hàng chục thuật toán nhận diện khuôn mặt cho thấy tỷ lệ nhận diện sai những người châu Á và người Mỹ gốc Phi cao hơn 100 lần so với người da trắng. Cách nhận diện khuôn mặt. Hệ thống Giấy phép xuất bản số: 833/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 30-12-2021 Tòa soạn: Số 02, Trần Văn Sắc, Phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Điện thoại: 0299 3 822499 - Fax: 0299 3 622049 Email: baosoctrangdientu@gmail.com hoặc toasoanbaosoctrang@gmail.com Bên cạnh tàu Starship của công ty SpaceX được chọn làm tàu đổ bộ lên Mặt trăng vào năm 2025 hoặc 2026, NASA cho biết đang có kế hoạch khuyến khích việc phát triển thêm các phiên bản khác của tàu đổ bộ có thể mang theo phi hành gia cho chương trình Artemis. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, sự bùng nổ của công nghệ thông tin; quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi chất lượng nông sản càng cao; cùng với diện tích đất bị thu hẹp do đô thị hóa, do biến đổi khí hậu trong khi dân số tăng Lương nghìn USD từ ngành công nghệ thông tin; Công nghệ thông tin và Kỹ thuật phần mềm - Nên chọn học ngành nào? Top 5 chuyên ngành công nghệ thông tin "cực hot" trong thế kỉ XXI . Thế giới đang được nhận định ở mức nền công nghệ 4.0, nhưng chắc chắn, mức phát triển sẽ 9AxxHt. Công nghệ thông tin rất rộng bạn ạ, nói bao quát sẽ như thế này, công nghệ thông tin rất có ích cho việc học tập, làm việc. cũng có nhiều mặt Cái gì cũng thế, thường có tính hai mặt. Internet cũng vậy thôi, cùng với các luồng thông tin khách quan, nhanh nhạy, phong phú mang tính toàn cầu, có không ít những hãng truyền thông hay cá nhân lợi dụng ưu thế công nghệ của Internet, tung lên mạng những thông tin thất thiệt, không khách quan, xuất phát từ quan điểm của họ và vì lợi ích của họ. Muốn khai thác Internet có hiệu quả, người sử dụng Internet phải biết tìm nguồn tra cứu thích hợp với nhu cầu thông tin của mình, hơn thế còn phải biết xử lý và chọn lọc thông tin, hay nói cách khác là biết loại trừ những thông tin thất thiệt và biết “tiêu hóa” thông tin có ích để biến thành tri thức của mình. Cho nên việc mở rộng Internet là cần thiết, nhưng phải được sử dung cho những mục đích có lợi như phục vụ học tập, nghiên cứu, tìm kiếm những thông tin kinh tế, khoa học, công nghệ, giao lưu với bạn hàng, Nếu sử dụng Internet để truy cập vào những trang Web đen tìm những trò tiêu không lành mạnh thì thật là nguy hại, đặc biệt là đối với tuổi vị thành niên. Vì vậy, những cửa hàng Internet cũng như việc sử dụng Internet ở trường học, ở gia đình đều cần được quản lý bằng những hình thức khác nhau, để sử dụng cho mục đích có lợi, ngăn chặn và loại trừ những ảnh hưởng xấu. Đấy cũng là việc làm cần thiết nhằm bảo vệ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Xuất bản 19/08/2020 - Cập nhật 19/08/2020 - Tác giả Hoàng Việt Câu HỏiMặt tích cực và tiêu cực của các công ti xuyên quổc gia biểu hiện làĐáp án và lời giảiđáp án đúng AMặt tích cực và tiêu cực của các công ti xuyên quổc gia biểu hiện là vừa liên kết thông nhất thị trường thế giới vừa độc quyền kinh tế. Công nghệ ở xung quanh chúng ta ở khắp mọi nơi, từ các thiết bị đơn giản như điện thoại thông minh, máy tính xách tay và TV cho đến công nghệ nền mà chúng ta thậm chí không nhận thấy. Nó sẽ không sớm đi đến bất cứ đâu, có nghĩa là chúng ta phải làm quen với nó. Một khi chúng ta hiểu rõ việc sử dụng công nghệ đúng cách, nó có thể cải thiện cuộc sống của chúng ta. Mặt khác, công nghệ cũng có thể khiến cuộc sống của chúng ta khó khăn hơn. Cho dù công nghệ có tác động tích cực hay tiêu cực đến cuộc sống của chúng ta, tất cả phụ thuộc vào cách chúng ta sử dụng nó. Vì vậy, chúng ta hãy xem xét một số khía cạnh tích cực và tiêu cực của công nghệ trong cuộc sống của chúng ta, phải không? Tích cực của công nghệ trong cuộc sống của chúng ta1. Công nghệ thúc đẩy kinh doanh2. Công nghệ làm cho việc mua sắm trực tuyến trở nên khả thi3. Công nghệ có giáo dục tiên tiến4. Công nghệ làm cho cuộc sống hàng ngày trở nên tốt đẹp hơn Tiêu cực của công nghệ trong cuộc sống của chúng ta1. Công nghệ gây ra các vấn đề về sức khỏe2. Công nghệ tạo ra sự không an toàn cho công việc3. Sản phẩm công nghệ kém tuổi thọ4. Công nghệ tạo ra thông tin sai lệch và tin tức giả mạo Công nghệ là một lợi ích và khó khăn cho xã hội của chúng ta Không nghi ngờ gì nữa, công nghệ đã khiến cuộc sống của chúng ta trở nên dễ dàng hơn trong hai thập kỷ qua. Từ việc kết nối với mọi người trên toàn cầu từ sự thoải mái trong ngôi nhà của bạn đến điều hành một doanh nghiệp chính thức mà không có không gian vật lý, công nghệ đã tác động tích cực đến cuộc sống của chúng ta theo một số cách. Vì vậy, hãy đọc tiếp phần dưới đây 1. Công nghệ thúc đẩy kinh doanh Nhiều cải tiến và cải tiến công nghệ mới được tạo ra bởi và cho các doanh nghiệp. Tại sao? Bởi vì các công ty luôn tìm cách nâng cấp sản phẩm và dịch vụ của mình để thu lợi nhuận. Công nghệ mới tiếp tục ra đời nhanh hơn chúng ta có thể theo kịp. Mục đích là thúc đẩy kinh doanh và làm cho việc quản lý hàng ngày của doanh nghiệp có hệ thống, cấu trúc và thành công hơn. Công nghệ đã thúc đẩy các doanh nghiệp bằng cách cải thiện quy trình tuyển dụng, thu thập và phân tích dữ liệu kinh doanh không có lỗi cũng như giao tiếp tốt hơn với khách hàng và đối tác. 2. Công nghệ làm cho việc mua sắm trực tuyến trở nên khả thi Những tiến bộ trong công nghệ đã giúp nhiều người truy cập Internet dễ dàng hơn, dẫn đến việc mua sắm trực tuyến trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Hiện nay, hầu hết mọi người thích mua sắm trực tuyến mà không cần ra khỏi nhà vì sự tiện lợi tuyệt đối của nó. Thay vì lãng phí hàng giờ trong trung tâm mua sắm, công nghệ làm cho việc mua sắm trở nên đơn giản. Một số lợi ích của mua sắm trực tuyến bao gồm các sản phẩm rẻ hơn, tiết kiệm thời gian, nhiên liệu và năng lượng, các mặt hàng dễ tìm hơn, nhiều loại trực tuyến hơn và không bị áp lực thêm. Amazon là một trang web tuyệt vời để thực hiện về cơ bản tất cả các hoạt động mua sắm trực tuyến của bạn. Đây là một trong những nền tảng mua sắm trực tuyến phổ biến nhất vì thực tế bạn có thể tìm thấy mọi thứ bạn đang tìm kiếm, từ hàng tạp hóa đến quần áo. 3. Công nghệ có giáo dục tiên tiến Một trong những lĩnh vực bị đánh giá thấp nhất của công nghệ đã được cải thiện đáng kể trong vài năm qua là giáo dục. Công nghệ chắc chắn mang lại lợi ích cho những người trong thế giới kinh doanh, nhưng nó lại ảnh hưởng lớn đến giáo dục. Một vài ví dụ bao gồm sự sẵn có của các khóa học trực tuyến, khả năng tiếp cận các hội thảo trên web và các nguồn tài nguyên trực tuyến không giới hạn để nghiên cứu. Trước khi có công nghệ, bạn phải đến lớp, tham gia một cuộc họp hoặc đến thư viện để nghiên cứu. Giờ đây, giáo dục dễ dàng hơn cho tất cả mọi người, bất kể bạn sống ở đâu. Các lớp học trực tuyến đã giúp tất cả sinh viên có thể đăng ký học mà không cần rời khỏi nhà của họ. Ngày nay, bạn có thể tìm thấy một số trang web tuyệt vời cho các khóa học đại học miễn phí trực tuyến, chẳng hạn như Udemy — một trang web tuyệt vời cung cấp hàng nghìn khóa học miễn phí và trả phí để bạn lựa chọn. Cho dù bạn muốn tạo trò chơi thực tế ảo hay trở thành một huấn luyện viên yoga, Udemy đều có một khóa học hoàn hảo cho bạn. 4. Công nghệ làm cho cuộc sống hàng ngày trở nên tốt đẹp hơn Hầu hết công nghệ ngày nay được tạo ra để cải thiện doanh nghiệp và tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên, công nghệ cũng có thể làm cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta tốt hơn rất nhiều. Công nghệ đã tạo ra một tác động tích cực to lớn đến cuộc sống hàng ngày của con người. Một số ví dụ tích cực bao gồm những cải tiến trong hệ thống giao thông. Bullet Train là một công nghệ tuyệt vời có thể di chuyển nhanh hơn sáu lần so với tàu thông thường. Hãy nghĩ về sự ra đời của ô tô tự lái chúng chưa từng được biết đến cách đây vài năm, và bây giờ chúng đã trở thành hiện thực. Bên cạnh giao thông, công nghệ cũng có ảnh hưởng tích cực đến các mặt hàng gia dụng. Ví dụ, nhà thông minh hiện nay đã trở nên phổ biến. Các trung tâm thông minh cho phép các hộ gia đình kết nối các thiết bị và đồ dùng của họ, giúp cuộc sống trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Tiêu cực của công nghệ trong cuộc sống của chúng ta Dù chúng ta đánh giá cao công nghệ vì sự tiện lợi mà nó mang lại cho cuộc sống của chúng ta, thì một số khía cạnh của nó đã tác động tiêu cực đến xã hội của chúng ta theo nhiều cách. 1. Công nghệ gây ra các vấn đề về sức khỏe Khi công nghệ tiến bộ, chúng ta giờ đây kết nối với nhau hơn bao giờ hết và nó đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Đó là lý do tại sao công nghệ có thể tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất của chúng ta. Những vấn đề sức khỏe thể chất này có thể nghiêm trọng. Tuy nhiên, bạn có thể tránh hầu hết chúng bằng cách tạo ra những thói quen công nghệ lành mạnh thay vì những thói quen xấu. Ngoài việc tạo ra thói quen ngủ không lành mạnh, các thiết bị điện tử có thể gây mỏi mắt, tư thế xấu và tăng cường hoạt động, dẫn đến các vấn đề sức khỏe như béo phì. Nghỉ ngơi thường xuyên với các thiết bị này có thể giúp bạn tránh những vấn đề sức khỏe này. Bạn có thể tìm thấy một loạt ứng dụng nhắc nhở bạn nghỉ giải lao thường xuyên. Một ứng dụng phổ biến được sử dụng có tên là Focus Keeper. Ứng dụng này sẽ giúp bạn giảm mỏi mắt do kỹ thuật số, giải lao thường xuyên và ngăn chặn tình trạng kiệt sức với công nghệ. Tải xuống Focus Keeper dành cho Android iOS Miễn phí, mua hàng trong ứng dụng có sẵn 2. Công nghệ tạo ra sự không an toàn cho công việc Mất việc và giảm quy mô là hai tác động tiêu cực đáng kể của công nghệ. Do những tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ như tích hợp AI, việc tự động hóa và hoàn thành nhiệm vụ đã trở nên dễ dàng. Trong thời đại ngày nay, hầu hết các công ty cần phải cập nhật công nghệ mới nhất, nhưng trong quá trình này, những nhân viên có tay nghề thấp, như công nhân nhà máy và nhân viên thu ngân, sẽ bị thay thế. Máy móc hiện có thể thực hiện những công việc mà cho đến nay chỉ có con người mới có thể làm được, điều này tạo ra sự thiếu hụt lớn về việc làm. Điểm mấu chốt là mọi người không còn cần thiết cho các nhiệm vụ công việc nữa vì công nghệ đã trở nên hiệu quả như thế nào. 3. Sản phẩm công nghệ kém tuổi thọ Công nghệ phát triển vô cùng nhanh chóng, vì vậy các thiết bị kỹ thuật số và tiện ích mà chúng ta sử dụng có tuổi thọ ngắn và trở nên lỗi thời trong vài tháng. Vì những thiết bị này rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta nên chúng ta cần phải bảo trì và nâng cấp chúng thường xuyên. Bên cạnh việc bảo trì và nâng cấp, những phần công nghệ này có thể trở nên lỗi thời và bị gạt sang một bên bởi các phiên bản mới hơn, tiên tiến hơn. Các sản phẩm công nghệ không có tuổi thọ cao, vì vậy chúng có thể tốn kém và dẫn đến chất thải điện tử không cần thiết. Thay vì ném các thiết bị cũ của bạn đi hoặc ném chúng vào tủ, hãy sử dụng một trang web như Decluttr. Trang web này giúp bạn dễ dàng mua và bán công nghệ đã qua sử dụng của mình trực tuyến. 4. Công nghệ tạo ra thông tin sai lệch và tin tức giả mạo Sự lan truyền của thông tin sai lệch và tin tức giả trên mạng không có gì là mới. Trên thực tế, nó đã diễn ra trong nhiều năm. Tuy nhiên, với tất cả những phát triển thường xuyên xảy ra trong công nghệ, việc xác định đâu là thật và đâu là giả đã trở nên khó khăn hơn. Vì rất nhiều người không thể phân biệt được thông tin nào là thực và thông tin nào không, nên nó tạo ra rất nhiều sự hoài nghi và hiểu lầm về các chủ đề quan trọng. Điều này có thể đặc biệt có hại khi liên quan đến các vấn đề chính trị và tin tưởng vào các phương tiện truyền thông. Một ví dụ gần đây về việc những tiến bộ công nghệ đang ảnh hưởng tiêu cực đến chúng ta như thế nào là việc sử dụng deepfakes. Một số sự cố sâu sắc tiêu cực đã nổi lên gần đây và ngày càng khó phát hiện ra chúng. Những sự cố này có thể cảnh báo chúng ta về rủi ro có thể xảy ra với công nghệ trong tương lai. Nếu bạn cảm thấy khó khăn trong việc phát hiện tin tức giả và thông tin sai lệch, một nền tảng trực tuyến như Credder là một công cụ tuyệt vời để sử dụng. Credder sẽ giúp bạn tránh tin tức giả mạo và thông tin sai lệch vì nó chỉ theo dõi tin tức và thông tin được cung cấp bởi các nguồn đáng tin cậy. Công nghệ là một lợi ích và khó khăn cho xã hội của chúng ta Nhìn chung, công nghệ thật tuyệt vời và nó đã thay đổi thế giới trở nên tốt đẹp hơn, từ việc cải thiện cuộc sống hàng ngày của chúng ta đến việc xây dựng các doanh nghiệp tốt hơn. Phần lớn các tác động xấu của công nghệ bắt nguồn từ việc lạm dụng nó. Cách chúng ta chọn để sử dụng công nghệ có thể giúp ích hoặc gây hại cho bản thân và những người khác. Thay vì đổ lỗi cho công cụ, chúng ta cần sử dụng công nghệ một cách lành mạnh và có kỷ luật hơn. Bằng cách này, công nghệ có thể tiếp tục mang lại lợi ích cho cuộc sống của chúng ta. 7 Tác động tiêu cực của mạng xã hội đối với con người và người dùng Nếu bạn là một người sử dụng mạng xã hội nhiều, thật khôn ngoan khi nghĩ về những tác động tiêu cực của mạng xã hội đối với bạn và đồng nghiệp của bạn. Đọc tiếp Giới thiệu về tác giả Christine người La Mã 27 bài báo đã xuất bản Christine là một người sáng tạo nội dung với hơn năm năm kinh nghiệm viết về công nghệ cũng như một loạt các chủ đề khác. Cô ấy là một đầu bếp tại gia, một bà mẹ thực vật và người nếm rượu tự xưng. Xem thêm từ Christine Romans Theo dõi bản tin của chúng tôi Tham gia bản tin của chúng tôi để biết các mẹo công nghệ, đánh giá, sách điện tử miễn phí và các ưu đãi độc quyền! Bấm vào đây để đăng ký Công nghệ có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống con người Chính sự phát triển của ngành công nghệ thông tin, đã đánh dấu con người bước vào một giai đoạn phát triển mới. Hiện đại hơn, thông minh hơn, tiện ích hơn. Thế những bên cạnh những tiện ích mà công nghệ mang lại , cũng tồn tại những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống chúng ta. Vậy công nghệ có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống con người. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé. Những ảnh hưởng tích cực của công nghệ đến đời sống Sự ra đời của khoa học công nghệ, cùng với những phát minh khoa học tiên tiến đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt đời sống con người. Điện thoại thông minh, máy tính, điều hòa, người máy, thanh toán bằng thẻ, bằng điện thoại di động, ô tô, máy bay tự lái,…là những phát minh tiên tiên tiến, thông minh của loài người. Đánh dấu một kỷ nguyên phát triển mới trong lịch sử loài người. Công nghệ thức đẩy ngành y phát triển hơn Sự ra đời của các thiết bị công nghệ, khoa học tiên tiến đã thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển hơn. Những thiết bị này, giúp con người giải quyết công việc một cách nhanh chóng, hiệu quả mà không phải bỏ ra quá nhiều sức lao động. Điện thoại không chỉ giúp chúng ta kết nối lại với nhau, giữ liên lạc với nhau, mà còn giúp chúng ta giải trí, kinh doanh, trả tiền,..Điện thoại thông minh trở thành phương tiện không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Không chỉ điện thoại, sự ra đời của máy tính đã giúp con người giải quyết công việc một cách nhanh chóng. Hơn nữa máy tính chính là công cụ giúp con người kiếm thiện hiệu quả, tuy nhiên không thể thiếu mạng internet. Internet là công cụ trợ giúp đắc lực để con người tạo ra nguồn thu .Vì vậy, điện thoại, máy tính, internet không thể tách rời nhau và phải luôn đi với nhau. Với những phát minh hiện đại như máy bay, ô tô tự lái hay cửa hàng tiện lợi không có người bán, đã mang lại cho con người nhiều lợi ích. Chính những phát minh này đã đánh dấu con người bước vào một thời kì phát triển mới. Các thiết bị công nghệ tiên tiến, dần thay thế con người làm việc, không người bán, không người lái, làm việc nhà đã có robot, tắt , bật bóng đèn đã có thiết bị tự động,.. Tuy nhiên bên nhưng lợi ích to lớn mà công nghệ hiện đại mang lại luôn tồn tại nhiều mặt tiêu cực. Vậy những tiêu cực đó là gì, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ở phần 2 này nhé. Những ảnh hưởng tiêu cực của công nghệ đối với đời sống con người Bên cạnh những tích cực mà công nghệ mang lại, chúng ta không thể phủ nhận. Thế nhưng bên cạnh những mặt tích cực luôn tồn tại những mặt tiêu nghệ làm bạn trở nên lười nhác hơn, đôi khi khiến bạn trở nên ích kỷ và ” điên khùng” . Bạn không muốn làm việc nhà, bạn sử dụng robot làm việc thay bạn, trong khi đó bạn ngồi nghe nhạc, xem phim . Bạn trở nên ích kỷ và điên khùng khi máy tính, điện thoại ” đơ”, vào mạng chậm và load không được. Điều đó làm bạn tức giận và nổi khùng vô cớ với điện thoại, máy tính. Công nghệ – Nguyên nhân gây nên tình trạng mất ngủ, phá vỡ đồng hồ sinh học Công nghệ làm bạn mất đi giác ngủ, phá hủy đồng hồ sinh học của bản. Bởi con người luôn có thói quen sử dụng điện thoại trước khi đi ngủ, hay xem phim trước khi đi ngủ. Chính thói quen đó đã lấy đi giấc ngủ của bạn, thói quen ngủ muộn sẽ phá hủy đồng hồ sinh học của bạn. Không chỉ giấc ngủ, sức khỏe của bạn cũng bị ảnh hưởng trầm trọng, nguy cơ ung thư cao, xuất hiện bệnh béo phì, trầm cảm, tâm lý không ổn định và giảm trí nhớ. Công nghệ – nguy cơ thất nghiệp , thiếu việc làm. Không cân người làm giúp việc nhà, không cần thuê người lái xe, lái máy bay, không cần người bán hàng, thu tiền. Tất cả dường như được thay thế bằng công nghệ, điều đó làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều người, thất nghiệp, không có việc làm đồng nghĩa với việc không kiếm được tiền để trang trải cuộc sống. Qua đây ta thấy được rằng, sự phát triển công nghệ đã mang lại cho con người sự thay đổi hoàn toàn mới. Thế những nó cũng mang lại cho con người nhiều hệ lụy không đáng có, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống , tinh thần của con người. Vì vậy, chúng ta phải biết cách sử dụng công nghệ như thế nào cho hợp lý, để không gây ảnh hưởng đến sức khỏe, cũng như tinh thần, đời sống của bạn. Trên đây là một số chia sẻ của chúng tôi về vấn đề Công nghệ có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống. Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, mong rằng những chia sẻ trên của chúng tôi sẽ giúp ích cho bạn. Tóm tắt Công nghệ thông tin và truyền thông ICT được xem như một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội. Tại Việt Nam, ICT đã được quan tâm đầu tư phát triển, nhưng các đánh giá định lượng về tác động của ICT tới nền kinh tế còn rất hiếm. Bài báo này hệ thống hóa các đánh giá tác động của ICT tới nền kinh tế Việt Nam ở các khía cạnh vĩ mô, ngành, và doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ICT đã có tác động tích cực đến kinh tế Việt Nam. Tuy vậy, khi đi vào phân tích so sánh với các nước trong khu vực thì mức đóng góp của ICT tới tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động, tác động lan tỏa dưới dạng ICT là yếu tố công nghệ đầu vào của sản xuất, cũng như tác động của ICT tới thay đổi mô hình kinh doanh và mô hình tổ chức của doanh nghiệp đều vẫn còn hạn chế. Từ đó, tác giả phân tích và đưa ra gợi ý đối với các doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách nhằm khai thác tốt hơn ICT cho phát triển doanh nghiệp và kinh tế Việt khóa ICT, tác động, kinh tế Việt Nam Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free Tạp chí Khoa học Đại học Huế Kinh tế và Phát triển; ISSN 2588–1205 Tập 128, Số 5D, 2019, Tr. 5–19; DOI * Liên hệ ducdtv Nhận bài 24–6–2019; Hoàn thành phản biện 16–7–2019; Ngày nhận đăng 24–7–2019 TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM Đặng Thị Việt Đức* Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông 122 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam Tóm tắt Công nghệ thông tin và truyền thông ICT được xem như một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội. Tại Việt Nam, ICT đã được quan tâm đầu tư phát triển, nhưng các đánh giá định lượng về tác động của ICT tới nền kinh tế còn rất hiếm. Bài báo này hệ thống hóa các đánh giá tác động của ICT tới nền kinh tế Việt Nam ở các khía cạnh vĩ mô, ngành, và doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ICT đã có tác động tích cực đến kinh tế Việt Nam. Tuy vậy, khi đi vào phân tích so sánh với các nước trong khu vực thì mức đóng góp của ICT tới tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động, tác động lan tỏa dưới dạng ICT là yếu tố công nghệ đầu vào của sản xuất, cũng như tác động của ICT tới thay đổi mô hình kinh doanh và mô hình tổ chức của doanh nghiệp đều vẫn còn hạn chế. Từ đó, tác giả phân tích và đưa ra gợi ý đối với các doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách nhằm khai thác tốt hơn ICT cho phát triển doanh nghiệp và kinh tế Việt Nam. Từ khóa ICT, tác động, kinh tế Việt Nam 1 Đặt vấn đề Công nghệ thông tin và truyền thông Information Communication Technology – ICT đã trở thành công nghệ nền tảng của nền kinh tế trong mấy thập kỷ qua. Sự lan tỏa và ứng dụng rộng rãi của mạng viễn thông, Internet, di động, sự phát triển của các công nghệ mới như Internet vạn vật Internet of Things – IOT, điện toán đám mây, khoa học dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đều thể hiện sức ảnh hưởng của ICT tới các hoạt động kinh tế. Công nghệ thông tin và truyền thông hiện hữu trong hoạt động của mọi doanh nghiệp. Gần như tất cả các doanh nghiệp hiện nay đều sử dụng máy tính, kết nối Internet và sử dụng các ứng dụng ICT. Thực tế này đã thúc đẩy các nghiên cứu đánh giá tác động của ICT tới nền kinh tế tại các quốc gia. Tuy vậy, các nghiên cứu đánh giá vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, đặc biệt tại các nước đang phát triển [10]. Tác động của ICT là khác nhau tại các quốc gia khác nhau và trong nhiều trường hợp, tác động đó là không đáng kể [12]. Hơn nữa, các nghiên cứu tác động của ICT tới nền kinh tế thường chỉ tập trung vào một vài khía cạnh nên sẽ thiếu bức tranh tác động tổng thể [4, 18]. Do vậy, tác động thực tế của ICT tới các hoạt động kinh tế vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu. Tại Việt Nam, công nghệ thông tin và truyền thông được chính thức xem như một điểm chốt cho phát triển kinh tế xã hội từ năm 1993 thông qua Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ về 6 phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90. Cho đến nay, Việt Nam liên tục khẳng định ICT là tất yếu đối với phát triển kinh tế. Tuy vậy, các đánh giá định lượng về tác động của ICT tới nền kinh tế còn rất hiếm. Mục tiêu của bài báo này là hệ thống hóa các đánh giá tác động của ICT tới nền kinh tế, bao gồm cả đánh giá ở mức vĩ mô, ngành và vi mô. Để thực hiện được điều đó, sau phần giới thiệu, phần hai của bài báo sẽ đi vào nghiên cứu tổng quan tác động của ICT tới nền kinh tế. Phần ba đi sâu vào hệ thống hóa các tác động của ICT tới nền kinh tế Việt Nam và cuối cùng là kết luận và hàm ý nhằm thúc đẩy ICT cho phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai. Bài báo này một mặt sẽ đóng góp vào các nghiên cứu tác động của ICT nói chung, đặc biệt bổ sung trường hợp nghiên cứu tại các nước đang phát triển, mặt khác là một nghiên cứu hệ thống về tác động kinh tế của ICT tại Việt Nam, một quốc gia đã chủ trương phát triển ICT cho phát triển kinh tế nhiều năm nhưng tác động chưa được nghiên cứu rõ ràng. 2 Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới nền kinh tế Ảnh hưởng của ICT tới nền kinh tế đã được lý giải thông qua nhiều lý thuyết, nổi bật là hai lý thuyết gồm Lý thuyết công nghệ mang mục đích chung General Purpose Technology và Lý thuyết khuôn mẫu công nghệ Technological paradigm. Lý thuyết công nghệ mang mục đích chung được một số nhà kinh tế học thuộc trường phái tân cổ điển như Helpman [8], Bresnahan và Trajtenberg [3] phát triển, coi ICT là công nghệ mang mục đích chung. Khác với các công nghệ thông thường, công nghệ mang mục đích chung có ba đặc trưng là tính lan toả pervasiveness, tính cải tiến improvement và tính kích thích sáng tạo innovation spawning. Tính lan toả có nghĩa là công nghệ mang mục đích chung được sử dụng như một yếu tố đầu vào cho rất nhiều ngành sản xuất và dịch vụ. Tính cải tiến chỉ ra khả năng tự nâng cấp, phát triển và liên tục giảm giá của công nghệ. Tính kích thích sáng tạo thể hiện ở việc áp dụng công nghệ mang mục đích chung vào các ngành sản xuất và dịch vụ hỗ trợ việc tạo ra những sản phẩm mới và các quy trình sản xuất mới [3]. Các tác giả so sánh ICT với các công nghệ mang mục đích chung khác mà nền kinh tế thế giới đã trải qua như công nghệ in, động cơ hơi nước, quá trình cơ giới hoá, đường sắt, điện… để thấy tác động lan toả to lớn của ICT trong nền kinh tế. Lý thuyết khuôn mẫu công nghệ gắn ICT với khái niệm khuôn mẫu công nghệ [6, 8, 16, 17]. Khuôn mẫu công nghệ bao gồm một nhóm các công nghệ cơ bản được tạo ra và chịu sự chi phối của những nguyên lý và các quy tắc thực hành nhất định. Nhóm công nghệ cơ bản khi được coi là “khuôn mẫu” phải có ảnh hưởng đột phá, sâu rộng không chỉ trên khía cạnh kỹ thuật mà còn cả cấu trúc tổ chức – quản lý, thực sự tạo nên một cuộc cách mạng thay đổi toàn bộ logic sản xuất và nền kinh tế. Shiller [21] và Freeman [8] gọi tên “khuôn mẫu ICT” tương ứng với nền kinh tế mới – kinh tế tri thức. ICT buộc các doanh nghiệp phải thay đổi cấu trúc tổ 7 chức, cách thức quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, cũng như với các đối tác, nhà cung cấp và khách hàng để không bị đào thải khỏi thị trường [8, 21]. Công nghệ thông tin và truyền thông tác động đến lối sống, thói quen sinh hoạt và làm việc của dân cư. Tóm lại, công nghệ thông tin và truyền thông tạo nên một trật tự hoàn toàn mới của nền kinh tế. Lý thuyết khuôn mẫu công nghệ ICT khẳng định chắc chắn rằng sự tác động của ICT là toàn diện trên phương diện chất và lượng, cấu trúc của hệ thống kinh tế – kỹ thuật techno-economic system và hệ thống xã hội – thể chế socio-insitutional system của nền kinh tế. Cả Lý thuyết công nghệ mang mục đích chung và Lý thuyết khuôn mẫu công nghệ đều khẳng định tác động rộng lớn, lan toả của ICT trong nền kinh tế. Vì vậy, việc đánh giá ảnh hưởng của ICT tới tăng trưởng và phát triển kinh tế bao giờ cũng phải xét tới khía cạnh lan toả của ngành ICT qua các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, cả hai lý thuyết đều khẳng định tính quá trình cũng như sự ảnh hưởng đa chiều của ICT tới nền kinh tế. Điều này có nghĩa là mức độ tác động của ICT sẽ không giống nhau giữa các nước khác nhau. Các nghiên cứu thực nghiệm xem xét vai trò của ICT đối với tăng trưởng, đầu tư và các khía cạnh của nền kinh tế [4, 18]. Cụ thể, các nghiên cứu tập trung vào ba tác động điển hình của ICT tới nền kinh tế. Thứ nhất, đầu tư vào ICT tăng cường tác động của vốn và vì vậy có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng năng suất lao động xã hội. Thứ hai, mức độ phát triển công nghệ nhanh chóng trong sản xuất, dịch vụ và sản phẩm ICT đóng góp vào hiệu quả của vốn và lao động trong chính các ngành sản xuất ICT. Cuối cùng, việc sử dụng ICT trong nền kinh tế có thể hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động. Hơn nữa, do tác động của ICT, thương mại điện tử, dịch vụ cung cấp trực tuyến, phần mềm và thông tin dẫn tới cấu trúc thị trường và điều kiện cạnh tranh thị trường thay đổi. Nhiều chuyên gia cũng chỉ ra rằng Internet và thương mại điện tử tạo cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp nhỏ vì các doanh nghiệp này có thể dễ dàng tham gia vào chuỗi giá trị hơn, chi phí giao dịch giảm và khả năng tham gia lớn hơn vào thị trường toàn cầu. Công nghệ thông tin và truyền thông cũng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới, các sản phẩm và dịch vụ mới, các quy trình mới, và góp phần tạo ra những phát minh mới. Để đánh giá tác động của ICT tới nền kinh tế, các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng số liệu vĩ mô, ngành và doanh nghiệp. Ở cấp độ vĩ mô, các nghiên cứu tập trung vào đánh giá tác động của ICT tới tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu định lượng đều chỉ ra tác động thuận chiều của ICT tới tăng trưởng GDP tại các quốc gia với các mức độ khác nhau. Chẳng hạn, Daveri [5] sử dụng dữ liệu của 18 quốc gia OECD và Liên minh châu Âu EU từ 1992 đến 1997 và cho thấy ICT đóng góp vào tăng trưởng GDP ở tất cả các nước được nghiên cứu, nhưng đóng góp ở các nước EU nhỏ hơn so với các nước công nghiệp khác. Sự khác biệt này là do đầu tư ICT thấp hơn ở các nước EU. Nghiên cứu của Niebel [14] với 59 quốc gia trong giai đoạn 1995–2010 cho thấy đóng góp của ICT vào tăng trưởng kinh tế của các quốc gia phát triển và mới nổi khá tương đồng; 1% tăng trưởng ngành ICT dẫn tới 8 khoảng 4,8% thay đổi tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, con số này cao hơn một chút ở các nước đang phát triển, ở mức 7,7%. Karlsson và Liljevern [12] nghiên cứu xem có sự khác nhau về mức độ ảnh hưởng của tăng trưởng trong đầu tư ICT đến tăng trưởng sản lượng toàn nền kinh tế giữa bốn nhóm quốc gia có thu nhập khác nhau hay không. Phân tích dữ liệu bảng dựa trên mẫu của 101 quốc gia trong giai đoạn 1995–2015. Các tác giả chia mẫu hồi quy thành các quốc gia có thu nhập cao, trung bình cao, trung bình thấp và thấp. Kết quả cho thấy ICT có những đóng góp đáng kể cho tăng trưởng ở ba nhóm nước giàu nhất đóng góp của đầu tư ICT tới GDP các nước có thu nhập cao, thu nhập trung bình cao và thu nhập trung bình thấp lần lượt là 0,056%; 0,048% và 0,044%, trong khi đó tác động của ICT tới tăng trưởng ở các nước thu nhập trung bình là không đáng kể. Đóng góp của ICT tới năng suất lao động cũng được chứng minh qua các nghiên cứu. Schreyer [22] nhận thấy rằng, trong trường hợp của các nước G7, trong giai đoạn 1990–1996, ICT đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng năng suất ở cả bảy các quốc gia với cường độ khác nhau. Kegels, van Overbeke và van Zandweghe [13] khi phân tích về đóng góp của ICT cho hiệu quả kinh tế ở Bỉ cho thấy rằng việc tích lũy vốn ICT dẫn đến sự đóng góp ngày càng tăng của vốn ICT vào tăng trưởng sản lượng và năng suất lao động trung bình của quốc gia. Theo Heshmati and Wang [10], đối với nền kinh tế Trung Quốc từ 1977 tới 2002, ICT đóng góp 41% vào tăng trưởng năng suất các yếu tố tổng hợp TFP và ICT có thể giải thích được 19% tăng trưởng kinh tế quốc gia. Ở mức doanh nghiệp, các nghiên cứu gặp khó khăn hơn nhiều so với các nghiên cứu ở cấp vĩ mô do thiếu dữ liệu mang tính hệ thống. Các nghiên cứu thường phải sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau hoặc thực hiện điều tra mẫu lớn, do vậy số lượng và kết quả nghiên cứu bị hạn chế. Các nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu 1 tác động của ICT tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp và 2 các yếu tố ảnh hưởng tới việc áp dụng thành công ICT trong doanh nghiệp. Salwani và cs. [20] khẳng định mối quan hệ thuận chiều giữa việc sử dụng thương mại điện tử tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành du lịch Malaysia. Nurmilaakso [15] cũng khẳng định mối quan hệ thuận chiều giữa việc áp dụng các ứng dụng ICT với năng suất lao động của nhân viên. Berrio và cs. [2] chỉ ra rằng ICT là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự hình thành và tính năng động của các doanh nghiệp. Các nghiên cứu cho trường hợp các nước phát triển phổ biến hơn các nước đang phát triển, một phần do tác động của ICT tới nền kinh tế đã rõ ràng hơn và một phần do dữ liệu tại các nước này cũng đầy đủ và chính xác hơn. 3 Phương pháp Nghiên cứu sử dụng phương pháp tìm kiếm, phân loại và hệ thống hóa nhằm tập hợp, bóc tách và sắp xếp các nghiên cứu thực nghiệm thu thập được theo mức độ và tính chất tác động của ICT, từ đó xây dựng một bức tranh tổng thể hệ thống về tác động của ICT tới nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể, tác giả tìm kiếm các tài liệu nghiên cứu theo vấn đề “tác động kinh tế 9 của ICT Việt Nam”. Tài liệu bao gồm các bài báo tạp chí mang tính chất hàn lâm và các báo cáo của các tổ chức thực hành, tư vấn, nghề nghiệp liên quan. Đối với các bài báo tạp chí hàn lâm, tác giả thực hiện tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu tạp chí có uy tín quốc tế và trong nước như Science Direct, Spinger, ISI web of Science, ProQuest, Scopus, Cơ sở dữ liệu của Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam, Nasati. Đối với các xuất bản mang tính thực hành, tác giả tìm kiếm các báo cáo của một số tổ chức chuyên nghiên cứu, đánh giá về ICT các nước như Tổ chức Trí tuệ kinh tế của Anh Economist Intelligence Unit – EIU, Ngân hàng thế giới World Bank – WB, Liên minh Viễn thông Quốc tế International Telecommunication Union – ITU. Công cụ Google Scholar cũng được sử dụng để tìm kiếm. Các tài liệu được phân loại theo khía cạnh tác động của ICT tới kinh tế Việt Nam vĩ mô, ngành và doanh nghiệp/ tổ chức. Một số nghiên cứu không tập trung vào tác động kinh tế của ICT tới nền kinh tế Việt Nam, nhưng dựa vào các từ khóa, tác giả có thể bóc tách các nội dung liên quan để phục vụ cho bài báo này. Phương pháp phân tích và tổng hợp và phương pháp so sánh được sử dụng để phân tích rõ hơn tác động của ICT tới nền kinh tế, so sánh tác động kinh tế của ngành ICT với các ngành khác và với các quốc gia tương đồng để đánh giá khách quan về vị trí của ICT trong nền kinh tế Việt Nam. Các chỉ tiêu phân tích tác động căn bản nhấn mạnh vào các đặc điểm khác biệt đã được chỉ ra trong phần tổng quan của ICT so với các công nghệ thông thường gồm tính toàn diện, tính lan tỏa, tính cải tiến và kích thích sáng tạo. Các chỉ tiêu này được trình bày theo ba khía cạnh tác động của ICT tới nền kinh tế Việt Nam. Ở khía cạnh vĩ mô, các chỉ tiêu đánh giá tác động của ICT tới kinh tế chủ yếu gồm tác động tới tăng trưởng GDP và năng suất lao động. Ở mức ngành, các chỉ tiêu đánh giá nhấn mạnh tới tác động lan tỏa từ ngành ICT tới các ngành kinh tế khác và ở khía cạnh vi mô, các tác động ICT lưu ý tới những chuyển biến trong mô hình kinh doanh và quy trình kinh doanh của các doanh nghiệp. 4 Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới kinh tế Việt Nam Vai trò của đầu tư công nghệ thông tin và truyền thông tới tăng trưởng GDP và năng suất lao động Tổ chức Năng suất Châu Á Asian Productivity Organization – APO tính toán đóng góp của các yếu tố tới tăng trưởng kinh tế GDP và tăng trưởng năng suất lao động của các nước Châu Á. Các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng GDP gồm lao động, vốn và năng suất tổng hợp các yếu tố TFP. Yếu tố vốn được tách thành vốn công nghệ thông tin ICT và vốn ngoài ICT non-ICT. Tổ chức Năng suất Châu Á sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng growth accounting để tính toán. Bảng 1 cho thấy mức đóng góp của vốn ICT cho tăng trưởng GDP tại Việt Nam. Cụ thể, trong mức tăng trưởng GDP trung bình 6,67% giai đoạn 2000–2016, yếu tố vốn IT đóng góp 0,3% trong tổng 6,67%, phần còn lại 6,37% do đóng góp của lao động, vốn ngoài ICT và năng suất tổng hợp các yếu tố TFP. Nếu tính tổng mức đóng góp là 100% thì mức đóng góp của tăng trưởng vốn ICT Việt Nam là 5% [1]. Mức đóng góp này thấp hơn của Thái 10 Lan, Philipin, Malaysia, Lào nhưng cao hơn của Indonesia. Nếu so sánh mức đóng góp của vốn ICT trong nghiên cứu của Karlsson và Liljevern [12] thì mức đóng góp vào tăng trưởng GDP của vốn ICT Việt Nam cao hơn mức trung bình của các quốc gia có chung khoảng thu nhập 5% so với 4,4%. Bảng 1. Các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế từ 2000 đến 2016 tại một số nước châu Á Đơn vị % TFP năng suất tổng hợp các yếu tố * mức đóng góp tuyệt đối ** mức đóng góp tương đối trên tổng 100% 0,15 = 0,76/5,15 Nguồn APO [1] Bảng 2 cho biết mức đóng góp của vốn ICT và các yếu tố khác tới năng suất lao động tại một số quốc gia khảo sát. Với mức tăng trưởng năng suất lao động 5,22%/năm trong giai đoạn 1986–2008, vốn IT đóng góp 0,25% tương đương với mức đóng góp 5% vào tăng trưởng năng suất lao động [1]. Mức đóng góp này thấp hơn mức trung bình của các quốc gia Châu Á so sánh cũng như đa phần các quốc gia trong khu vực. 11 Bảng 2. Các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng năng suất lao động giai đoạn 2000–2016 tại một số nước châu Á Đơn vị % TFP năng suất tổng hợp các yếu tố * mức đóng góp tuyệt đối ** mức đóng góp tương đối trên tổng 100% 0,03 = 0,16/3,21 Nguồn APO [1] Tác động nhân sản lượng và lan tỏa của các ngành sản xuất công nghệ thông tin và truyền thông Các lý thuyết về vai trò kinh tế của ICT đều nhấn mạnh tác động lan toả của ngành này trong nền kinh tế. Mặc dù nghiên cứu của APO [1] chỉ ra mối quan hệ thuận chiều và mức độ đóng góp của vốn ICT trực tiếp tới tổng thể tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động nhưng không chỉ ra được tác động lan tỏa gián tiếp từ sản xuất của ngành ICT tới các ngành khác và tới nền kinh tế nghĩa là một ngành khi phát triển sẽ tạo điều kiện cho các ngành cung ứng cũng như các ngành sử dụng sản phẩm dịch vụ của nó phát triển theo, cũng như không cho phép so sánh tác động của ngành ICT với các ngành khác. Đức và Linh [7] đã trình bày tác động của từng ngành ICT tới tổng sản lượng nền kinh tế cũng như tới các ngành kinh tế khác tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích bảng Đầu ra đầu vào IO cho năm 2007 và 2012. Ngành ICT được phân chia thành ngành công nghiệp phần cứng ICT, ngành dịch vụ ICT và ngành nội dung ICT. Toàn nền kinh tế được phân chia thành 27 ngành theo tính chất sản xuất kinh doanh và mức độ sử dụng ICT Bảng 3. 12 Bảng 3. 27 nhóm ngành kinh tế theo tính chất sản xuất kinh doanh và theo mức độ sử dụng ICT Các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp chế biến – chế tạo khác Quặng kim loại và khoáng sản Thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ Dịch vụ vận tải, lưu trú ăn uống Vải dệt, hàng dệt may và các sản phẩm bằng da thuộc Các sản phẩm từ gỗ và giấy Dịch vụ tài chính, kế toán Hoá chất và các sản phẩm hoá chất, dầu mỏ, than, cao su, nhựa Dịch vụ khoa học, kinh doanh, việc làm Các sản phẩm khoáng sản phi kim loại Các kim loại cơ bản và các sản phẩm bằng kim loại khác Công nghiệp phần cứng ICT Máy móc, thiết bị, đồ dùng và các phụ kiện của chúng Dịch vụ giải trí và dịch vụ khác Nguồn. Đức và Linh [7] Bảng 4. Hệ số nhân sản lượng ngành công nghệ thông tin và truyền thông Đơn vị Lần Công nghiệp phần cứng ICT Công nghiệp phần cứng ICT Nguồn. Đức và Linh [7] 13 Hình 1. Hệ số nhân sản lượng của các ngành trong nền kinh tế Việt Nam Nguồn. Đức và Linh [7] Kết quả nghiên cứu cho thấy, vào năm 2012, một đồng sản lượng ngành công nghiệp phần cứng ICT tạo ra 4,13 đồng tổng sản lượng nền kinh tế. Một đồng sản lượng ngành dịch vụ ICT và ngành nội dung ICT tạo ra lần lượt 3,21 và 2,86 đồng tổng sản lượng của nền kinh tế. Nếu so sánh hệ số nhân sản lượng ngành ICT với các ngành khác thì có thể thấy ICT mã ngành N12 – công nghiệp phần cứng ICT, N20 – Nội dung và truyền thông ICT và N21 – Dịch vụ ICT – màu vàng trên hình là ngành có hệ số nhân sản lượng cao trong nền kinh tế Việt Nam, trong đó ngành công nghiệp phần cứng ICT có hệ số nhân sản lượng cao thứ 3 trong tổng 27 ngành của nền kinh tế Việt Nam Hình 1. Nếu so sánh tương đối với hệ số nhân sản lượng của ngành công nghiệp ICT tại một số nước trong khu vực như Malaysia ở mức 1,64, Thái Lan ở mức 1,38 và Indonesia ở mức 1,68 [11] thì có thể thấy tác động tăng sản lượng của ngành công nghiệp ICT Việt Nam nói riêng và ngành ICT Việt Nam nói chung đều khá cao. Điều này có thể do ngành ICT Việt Nam phục vụ phần lớn cho nhu cầu nội địa trong khi đó ngành ICT của Malaysia và Thái Lan lại phục vụ chủ yếu cho xuất khẩu. Như vậy, mặc dù bản thân sản lượng của ngành ICT chỉ chiếm 4% tổng GDP và mức độ đầu tư ICT của các ngành vẫn còn thấp, nhưng tác động nhân sản lượng của ngành ICT khẳng định được khả năng kích thích nền kinh tế của ngành ICT. Đức và Linh [7] cũng tính toán hệ số liên kết ngược và xuôi để biết chi tiết hơn mức độ lan toả của ngành ICT vào các ngành kinh tế khác. Khi hệ số liên kết ngược lớn hơn 1 và càng cao thì ngành ICT phát triển nhanh sẽ kéo theo sự tăng trưởng nhanh của toàn bộ các ngành cung ứng. Tương tự, khi hệ số liên kết xuôi lớn hơn 1 và càng cao thì ngành ICT phát triển sẽ kích thích sự phát triển tốt của các ngành sử dụng sản phẩm và dịch vụ ngành ICT. Hai hệ số 0,000,501,001,502,002,503,00N1N2N3N4N5N6N7N8N9N10N11N12N13N14N15N16N17N18N19N20N21N22N23N24N25N26N27Hệ số nhân sản lượng lần Ngành kinh tế 14 này của ngành công nghiệp phần cứng ICT đều lớn hơn 1 và cao so với hai ngành còn lại cho thấy ảnh hưởng lan toả lớn của ngành này đối với nền kinh tế Việt Nam. Với cả ba ngành ICT, liên kết ngược mạnh hơn liên kết xuôi. Điều này có nghĩa ICT tác động tới các ngành kinh tế khác với vai trò là ngành tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của những ngành này nhiều hơn tác động tới chúng thông qua việc cung cấp yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới hoạt động của doanh nghiệp và sự hình thành doanh nghiệp mới Ở khía cạnh doanh nghiệp, chỉ số sẵn sàng kết nối NRI – Network Readiness Index của WEF [23] có một chỉ số thành phần phản ánh tác động kinh tế của ICT tại các quốc gia khác nhau. Hình 2 so sánh tác động của ICT tới 1 sự thay đổi mô hình kinh doanh, 2 sự xuất hiện các mô hình tổ chức mới, 3 số lượng việc làm tri thức cao trên tổng lực lượng lao động và 4 tác động tổng hợp của ICT tới nền kinh tế quốc gia giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực. Số liệu cho thấy tác động của ICT tới mô hình kinh doanh và tổ chức của Việt Nam khá tương đồng với Thái lan, Indonesia và Philipin, nhưng tỷ trọng việc làm tri thức cao trên thị trường Việt Nam còn thấp hơn ở các nước này. Vì vậy, về mức xếp hạng chung mức tác động của ICT tới nền kinh tế năm 2016, Việt Nam đứng thứ 92/139 nước xếp hạng Bảng 5. Đây là mức thấp hơn khá nhiều so với các quốc gia trong khu vực. Lưu ý rằng, chỉ số tác động của ICT tới nền kinh tế này chưa đầy đủ, được xem xét chủ yếu từ một số khía cạnh tác động ở mức doanh nghiệp. Hình 2. Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới nền kinh tế tại một số quốc gia châu Á Nguồn. WEF [23] 0,00%10,00%20,00%30,00%40,00%50,00%60,00%01234567Tỷ lệ % Mức độ tác động 1-7 cao nhất Tác động của ICT tới mô hình kinh doanh, 1-7 cao nhất Tác động của ICT tới mô hình tổ chức mới, 1-7 cao nhất Tác động kinh tế chung của ICT, 1-7 cao nhất Tỷ lệ lao động tri thức, % trên tổng lao động 15 Bảng 5. Xếp hạng tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới nền kinh tế từ khía cạnh vi mô Nguồn. WEF [23] Ở góc độ hẹp, Phước và Bình [19] đánh giá tác động của ICT tới các doanh nghiệp thông qua nghiên cứu ảnh hưởng của thương mại điện tử tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Các tác giả đã khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng bảng hỏi với thang đo Likert 5. Năm lợi ích lớn nhất được các doanh nghiệp tham gia khảo sát đồng thuận với mức điểm từ 3,11/5 tới 3,47/5 gồm 1 giảm chi phí giao dịch và marketing, 2 tăng mức lợi nhuận của doanh nghiệp, 3 tăng cường thị phần, 4 cải thiện quy trình kinh doanh và 5 hỗ trợ dịch vụ khách hàng Bảng 6. Bảng 6. Các lợi ích của thương mại điện tử đối với các doanh nghiệp Lợi ích từ thương mại điện tử Giảm chi phí giao dịch và marketing Cải thiện quy trình kinh doanh Củng cố dịch vụ khách hàng Nguồn. Phước và Bình [19] 5 Thảo luận Mặc dù còn hạn chế về số lượng nghiên cứu định lượng, nhưng các nghiên cứu hiện tại khá phù hợp về kết quả đánh giá và chỉ ra một số đặc điểm về tác động của ICT tới nền kinh tế Việt Nam. Thứ nhất, ở khía cạnh vĩ mô, đóng góp của vốn đầu tư ICT tới tăng trưởng GDP và tăng trưởng năng suất lao động thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Như vậy, cho dù ICT vẫn được nhấn mạnh là động lực phát triển kinh tế Việt Nam, nhưng vốn đầu tư vào ICT tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Thứ hai, ở mức độ ngành, tác động nhân sản lượng của ICT Việt Nam tới tổng sản lượng nền kinh tế ở mức khá hơn một số nước trong khu vực và nhiều ngành kinh tế khác thuộc nền kinh tế Việt Nam, nhưng tác động ấy đến chủ yếu từ việc ICT sử dụng các ngành khác là yếu tố đầu vào, trong khi tác động của ICT tới các ngành khác với tư cách là yếu tố công nghệ đầu vào lại hạn chế hơn. Đây cũng là khía cạnh ít mong muốn hơn trong tác động lan tỏa của ICT. Lý 16 thuyết công nghệ mang mục đích chung [3, 9] và Lý thuyết khuôn mẫu công nghệ [6, 8, 14, 15] đều nhấn mạnh vào vai trò công nghệ nền tảng của ICT tạo sự thay đổi mạnh mẽ đối với nền kinh tế xã hội khi nó được các ngành kinh tế ứng dụng như một yếu tố đầu vào. Thứ ba, ở khía cạnh doanh nghiệp, mặc dù khảo sát cho thấy ICT đã đóng góp vào hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp, nhưng mức độ tác động trên các khía cạnh như tạo mô hình kinh doanh mới, mô hình tổ chức mới, hay số lượng lao động tri thức trong tổng lực lượng lao động tại Việt Nam vẫn còn hạn chế so với các nước trong khu vực. Như vậy, tác động mang tính bước ngoặt làm thay đổi logic sản xuất và mô hình kinh doanh được dự báo trong lý thuyết [3, 6, 8, 9, 16, 17] của ICT chưa thể hiện rõ nét trong trường hợp nền kinh tế Việt Nam. 6 Kết luận Nghiên cứu đã đánh giá được một cách hệ thống tác động kinh tế của ICT tại Việt Nam. Tác động của ICT tới nền kinh tế là hiện hữu, tuy vậy mức độ tác động còn hạn chế. ICT chưa thể tác động làm thay đổi đáng kể cách thức hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam, nên khi chuyển sang mức ngành, tác động lan tỏa của ngành ICT tới các ngành kinh tế khác ở phía cầu thấp, tiếp đến là đóng góp tổng thể cho tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động cũng hạn chế. Đây là nghiên cứu tổng thể đầu tiên với các số liệu định lượng rõ ràng về tác động của ICT tới kinh tế Việt Nam. Kết quả phân tích đánh giá tác động kinh tế của ICT tại Việt Nam trên đây gợi ý rằng công nghệ thông tin và truyền thông vẫn có tiềm năng kích thích các ngành kinh tế phát triển. Tuy vậy, Việt Nam cần khắc phục những điểm tồn tại để tăng cường tác động kinh tế của ICT, cụ thể gồm 1 tăng cường đầu tư vào công nghệ thông tin và truyền thông, 2 tăng cường tác động lan tỏa từ việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông như là một yếu tố đầu vào cho sản xuất và 3 tăng cường tính đổi mới trong kinh doanh thông qua áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Muốn vậy, về phía chính phủ, chính sách công nghệ thông tin và truyền thông cần trước hết tạo đà và tạo môi trường kích thích đầu tư vào công nghệ thông tin và truyền thông. Môi trường đầu tư công nghệ thông tin và truyền thông có thể được kích thích từ phía cầu, thông qua các chương trình chẳng hạn như chính phủ điện tử, chương trình chuyển đổi số cho các doanh nghiệp, tổ chức hoặc có thể được kích thích từ phía cung chẳng hạn các hỗ trợ cơ chế, tài chính, xúc tiến thương mại đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông. Chính phủ cũng cần kích thích nghiên cứu sáng tạo, ứng dụng và chấp nhận rủi ro khi phát triển và ứng dụng những thành tựu mới của công nghệ thông tin và truyền thông. Trong trường hợp này, các biện pháp có thể bao gồm thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp tại Việt Nam. Về phía doanh nghiệp, các doanh nghiệp Việt Nam cần mạnh dạn ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho những thay đổi 17 mang tính bước ngoặt. Có như vậy, công nghệ thông tin và truyền thông mới phát huy được tiềm năng cao, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển, theo kịp các quốc gia trên thế giới. Mặc dù nghiên cứu đã xây dựng được bức tranh khá tổng thể đánh giá tác động kinh tế của công nghệ thông tin và truyền thông tới nền kinh tế Việt Nam từ khía cạnh vĩ mô tới vi mô, nhưng do kết quả nghiên cứu dựa trên trích xuất và tập hợp các nghiên cứu khác nhau với các nguồn dữ liệu khác nhau nên việc phân tích kết quả sẽ có những hạn chế nhất định. Trong thời gian tới, tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu định lượng dựa trên một bộ dữ liệu chính thống, sử dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá các góc cạnh tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới nền kinh tế Việt Nam. Tài liệu tham khảo 1 APO Asian Productivity Organization 2018, APO Productivity Database 2018, Retrieved from on 25 June 2019. 2 Berrio S. E. C., Redondo R. P., Hernandez H. G. 2018, Impact of ICT on the Generation of New Services Companies, Contemporary Engineering Sciences, 1152, 2591–2599. 3 Bresnahan T. F., Trajtenberg M. 1992, General Purpose Technologies Engines of Growth?, NBER Working Paper, 4148. 4 Brynjolfsson E., Kahin B. 2000, Understanding the Digital Economy Data, Tools, and Research, Massachusetts Institute of Technology, US. 5 Daveri F. 2000, Is growth an Information Technology story in Europe too?, IGIER Working Paper, 168. 6 Dosi G. 1982, Technical Paradigms and Technological Trajectories, Research Policy, 11, 147–162. 7 Đức Đ. T. V., Linh Đ. H. 2018, Contribution of ICT to Vietnamese Economy An Input-Output Analysis, VNU Journal of Economic and Business, 335E, 1–17, Retrieved from on 20 June 2019. 8 Freeman, C. 2005, The ICT Paradigm, in Mansell, R. et al. ed., The Oxford Handbook of Information and Communication Technologies, Oxford University Press. 9 Helpman E. Eds. 1998, General Purpose Technologies and Economic Growth, Cambridge, MA MIT Press. 10 Heshmati A., Yang W. 2006, Contribution of ICT to the Chinese Economic Growth, Ratio Working Papers 91, The Ratio Institute. 11 Irawan T. 2013, ICT and Economic Development Conclusion from IO Analysis for Selected ASEAN Member States, University of Wuppertal. 18 12 Karlsson E., Lijivern J. 2017, ICT Investment and the Effect on Economic Growth- A Comparative Study Across Four Income Groups, International School, Jonkping University. 13 Kegels C., Van Overbeke M., Van Zandweghe W 2002, ICT contribution to economic performance in Belgium Preliminary evidence, Working Paper 8–02, Federal Planning Bureau, Brussels. 14 Niebel T. 2014, ICT and Economic Growth- Comparing Developing, Emerging and Developed Countries, ZEW Centre for European Economic Research, Discussion Paper, 14–117. 15 Nurmilaakso, J. M. 2009, ICT solutions and labor productivity evidence from firm-level data, Electronic Commerce Research, 93, 173–181. 16 Perez C. 1983, Structural Change and Assimilation of New Technologies in the Economic and Social Systems, Future, October 1983, 357–375. 17 Perez C. 2004, Technological Revolutions, Paradigm Shifts, and Socio-Institutional Change, in R. Erik Eds., Globalization, Economic Development and Inequality An Alternative Perspective, Cheltenham, UK, Northampton, MA, USA Edward Elgar, 217–242. 18 Pilat D. 2004, The Economic Impacts of ICT- What have We Learned Thus Far?, Zew Conference on the Economics of Information and Communication Technologies, Mannheim, July 2–3. 19 Phước N. Đ. H, Bình Đ. T. 2018, The Impact of E-commerce on Vietnamese SMEs, European Journal of Business Science and Technology, 32, 90–96. 20 Salwani, M. I., Marthandan, G., Norzaidi, M. D., Chong, S. C. 2009, E-commerce usage and business performance in the Malaysian tourism sector empirical analysis, Information Management & Computer Security, 172, 166–185. 21 Shiller R. 2000, Irrational Exuberance, New York Princeton University Press. 22 Schreyer P. 2000, The contribution of information and communication technology to output growth A study of the G7 countries, Retrieved from 23 WEF World Economic Forum 2017, Global Information Technology Report 2016. 19 IMPACT OF INFORMATION AND COMMUNICATION TECHNOLOGY ON VIETNAM’S ECONOMY Dang Thi Viet Duc* Posts and Telecommunications Institute of Technology 122 Hoang Quoc Viet St., Cau Giay District, Ha Noi, Vietnam Abstract. Information and communication technology ICT is considered as an important driving force for socio-economic development. In Vietnam, Information and communication technology has been invested for economic development for more than two decades, but there have been limited quantitative assessments of the impact of ICT on the economy. This article systematizes the impact of ICT on Vietnam’s economy at macro-economic, industry, and business levels. The results indicate that the contribution of ICT to Vietnam’s economy is relatively positive. However, compared with other countries in the region, Vietnam experiences a limited impact of ICT on GDP growth, labor productivity growth, ICT diffusion as the technology input of production, as well as the impact of ICT to change the business model and organizational model of the enterprise. On the basis of these results, the author provides implications for businesses and policymakers to better exploit ICT for business and economic development in Vietnam. Keywords ICT, impact, Vietnam’s economy ResearchGate has not been able to resolve any citations for this publication. Dang Thi Viet DucThis article uses Input-output IO analysis to evaluate the impact of ICT on the Vietnamese economy. Two IO tables are used, including tables of 2007 and 2012. The results show that ICT sectors were small in Vietnamese economy and the spending on ICT products and services of an average sector of the economy was generally low. Regarding the impact on output of other sectors, the research results reveal that the ICT sectors' backward linkages were stronger than the forward linkages, the ICT generated more impact on sectors which provided it input rather than on sectors that used its products and services. The total output multiplying effect of the ICT was rather high; ICT was among the most influential sectors in Vietnamese economy. Among ICT sectors, the ICT manufacturing was the most pervasive which is followed by the ICT services and ICT media and content. The study implies that if Vietnam seeks to enhance the economy, the government needs to implement specific policies that facilitate ICT industry and ICT commerce E-commerce is one of the most innovative expansions of the technologies that enable small and medium-sized enterprise SMEs access to global communication and trade. It can help SMEs expand their businesses to global market and increase sales, reduce costs as well as profits. A questionnaire survey was conducted to study the impact of e-commerce on SMEs in Viet Nam. From the results of this survey, we strongly believed that e-commerce is the main key to bring a lot of benefits to not only SMEs but also big companies in Viet Nam. Juha-Miikka NurmilaaksoThis paper analyses the impacts of information and communication technology ICT solutions on labor productivity, revenue per employee. Based on cross-sectional data on 1955 European firms in 2005 and a linear regression model derived from the microeconomic theory of production, the impacts of six common ICT solutions in electronic commerce e-commerce cannot be ignored. According to the linear regression analysis, Internet access, standardized data exchange with the trading partners, enterprise resource planning ERP system, and customer relationship management CRM system contribute significant increases in labor productivity, whereas a website on the Internet, or supply chain management SCM system do not result in a significant increase. Especially, Internet access has a significant effect on labor productivity, and the website on the Internet has an insignificant Based upon the E‐VALUE model developed, this paper aims to investigate the impact of e‐commerce usage on business performance in the tourism sector. Design/methodology/approach A cross‐sectional survey is carried out on 165 Malaysian firms involved in the tourism sector hotels, resorts, and hospitals engaged in health tourism through the use of a structured questionnaire. Findings The structural equation modeling results indicate that technology competency, firm size, firm scope, web‐technology investment, pressure intensity, and back‐end usage have significant influence on e‐commerce usage. Among these variables, back‐end integration is found to function as a mediator. E‐commerce experience in years is found to moderate the relationship between e‐commerce usage and business performance. Research limitations/implications The paper focuses on the tourism sector in Malaysia and concentrates only on the management perspective of e‐commerce adoption. Practical implications The results provide insights to the Malaysian tourism sector and other organizations of similar structures of how they could improve upon their e‐commerce adoption and/or usage for improved business performance. Originality/value This paper is perhaps one of the first to investigate e‐commerce usage in the tourism sector using a comprehensive set of variables through an interactive, comprehensive and multi‐dimensional theoretical model the E‐VALUE model in investigating their influences on business Oxford Handbook of Information and Communication Technologies is about the many challenges presented by information and communication technologies ICTs. The authors are principally researchers in anthropology, economics, philosophy, politics, and sociology. The book sets out an intellectual agenda that examines the implications of ICTs for individuals, organizations, democracy, and the economy. The production and consumption of ICTs are becoming deeply embedded within our societies. The influence and implications of this have an impact at a macro level, in the way our governments, economies, and businesses operate, and at a micro level in our everyday lives. Explicitly interdisciplinary, and combining empirical research with theoretical work, this text is organised around four themes the knowledge economy; organizational dynamics, strategy, and design; governance and democracy; culture, community and new media literacies. Paul SchreyerWe model and experimentally examine the board structure-performance relationship. We examine single-tiered boards, two-tiered boards, insider-controlled boards, and outsider-controlled boards. We find that even insider-controlled boards frequently adopt institutionally preferred rather than self-interested policies. Two-tiered boards adopt institutionally preferred policies more frequently but tend to destroy value by being too conservative, frequently rejecting good projects. Outsider-controlled single-tiered boards, both when they have multiple insiders and only a single insider, adopt institutionally preferred policies most frequently. In those board designs where the efficient Nash equilibrium produces strictly higher payoffs to all agents than the coalition-proof equilibria, agents tend to select the efficient Nash equilibria. Copyright 2008, Oxford University PerezThrough generating a set of hypotheses about the inter-relationship between diffusion of new technologies and economic development, the author seeks to identify the causal mechanisms of the depressions in the trough of the Kondratiev long wave. A model of the capitalist economy and an analysis of its structural patterns and processes are proposed, and from an examination of the technoeconomic and socio-institutional characteristics of the fourth Kondratiev, some institutional requirements for the next upswing are elaborated.

mặt tiêu cực của công nghệ thông tin